Xuất khẩu kỷ lục hơn 920 tỉ USD: Đã đến lúc điều chỉnh lại mô hình xuất khẩu
Tuy xuất nhập khẩu tăng, nhưng nhìn qua thực tế, xuất siêu đang giảm nên đã đến lúc điều chỉnh lại mô hình xuất khẩu – đây là ý kiến của TS Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê.
Theo ông Lâm, mô hình tăng trưởng xuất khẩu đang dựa nhiều vào mở rộng quy mô đang để lộ nhiều hạn chế. Mục tiêu quan trọng nhất của tăng trưởng dựa vào xuất khẩu nghĩa là xuất siêu càng lớn càng tốt, vì chỉ có xuất siêu mới đóng góp vào GDP.
Bản chất GDP là cộng gộp của tiêu dùng nhà nước, tích lũy tài sản, chênh lệch xuất nhập khẩu. Nếu nhập siêu thì không có ý nghĩa với tăng trưởng GDP.
Xuất nhiều – nhập nhiều không có nhiều ý nghĩa
Theo ông Lâm, mô hình xuất khẩu hiện nay dựa vào mở rộng kim ngạch, dựa vào nhập khẩu nguyên liệu từ bên ngoài không có nhiều ý nghĩa.
Tất nhiên xuất khẩu tăng sẽ tạo nhiều công ăn việc làm, trong khi thu từ hoạt động xuất khẩu do doanh nghiệp nước ngoài hưởng. Xuất siêu giảm cho thấy mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu hiện nay đang đi tới hạn, hiệu quả ngày càng kém.
Điều này xuất phát từ ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước kém phát triển, các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên vật liệu bên ngoài, do đó giá trị gia tăng không được bao nhiêu.
Năm 2025, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu phải tranh thủ nhập khẩu nguyên vật liệu trước thời điểm tăng thuế, làm giảm xuất siêu, càng cho thấy rõ điều này.
Về vấn đề này, ông Lâm cho rằng khi mô hình xuất khẩu hiện nay đã tới hạn thì chúng ta cần thay đổi để có thể hưởng lợi nhiều hơn. Trong đó, cần xem lại xu hướng tiêu dùng thế giới trong những năm tới thế nào? Với nhu cầu thiết yếu như ăn – mặc, chúng ta cần tiếp tục duy trì các ngành hàng xuất khẩu liên quan như gạo, thủy sản, dệt may.
Để tăng giá trị xuất khẩu các mặt hàng truyền thống này cần đầu tư chuyên sâu, tăng cường chế biến sâu, mở rộng thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu kỹ để đẩy mạnh việc tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị xuất khẩu các sản phẩm chế biến – chế tạo như điện thoại, linh kiện điện tử.
Khi xuất siêu thu hẹp và mức độ phụ thuộc nhập khẩu còn lớn, yêu cầu đặt ra không chỉ là điều chỉnh chính sách mang tính tình thế, mà phải xác định mô hình phát triển trong khuôn khổ chiến lược mới.
Trên cơ sở đó, Nhà nước cần phát đi những thông điệp rõ ràng, nhất quán, có tính dẫn dắt nhằm chuyển trọng tâm của thương mại hàng hóa quốc tế từ tăng nhanh “khối lượng” sang tăng chất lượng giai đoạn 2026 – 2030.
Tập trung vào việc gì?
Từ việc phải thay đổi chiến lược xuất nhập khẩu, ông Lâm cho rằng tăng trưởng thương mại phải chuyển từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng và tính bền vững. Cần khẳng định rõ định hướng phát triển thương mại quốc tế dựa trên hiệu quả, giá trị gia tăng và khả năng chống chịu, thay vì chạy theo tốc độ tăng thuần túy.
Khu vực kinh tế trong nước phải trở thành trụ cột thực chất của xuất khẩu. Việc phát đi thông điệp mạnh mẽ về nâng cao năng lực sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước là hết sức cần thiết và coi đây là điều kiện then chốt để củng cố tự chủ kinh tế, cân bằng cán cân thương mại dài hạn với khu vực FDI.
Thương mại hàng hóa quốc tế phải được đặt trong tổng thể chiến lược công nghiệp hóa và nâng cấp chuỗi giá trị. Xuất khẩu không thể tách rời sản xuất trong nước. Mỗi bước tăng trưởng thương mại hàng hóa quốc tế cần gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ, nội địa hóa đầu vào, gia tăng hàm lượng công nghệ, qua đó giảm nhập khẩu trung gian và nâng cao giá trị giữ lại trong nền kinh tế.
Trong bối cảnh địa kinh tế toàn cầu phân mảng, Chính phủ cần định hướng thương mại hàng hóa quốc tế theo hướng đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn, chủ động thích ứng với các rào cản kỹ thuật, môi trường và thuế quan mới.
Thương mại quốc tế của Việt Nam phải chủ động thích ứng và dẫn dắt theo luật chơi toàn cầu mới. Các tiêu chuẩn về carbon, truy xuất nguồn gốc, lao động, số hóa hải quan và minh bạch chuỗi cung ứng không còn là xu hướng mà đã trở thành điều kiện bắt buộc. Chính phủ cần khẳng định quyết tâm chuyển từ “theo sau thích ứng” sang chuẩn bị trước và tham gia định hình.

