Xuất khẩu thủy sản mở rộng thị trường nội địa
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), khoảng 90% sản lượng của các doanh nghiệp hội viên phục vụ xuất khẩu, chỉ khoảng 10% tiêu thụ trong nước. Tỷ lệ này cho thấy dư địa rất lớn nếu doanh nghiệp khai thác tốt sức mua của thị trường hơn 100 triệu dân.
Theo Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, quy mô thị trường thủy, hải sản nội địa hiện khoảng 1 tỷ USD mỗi năm, trong khi mức tiêu thụ bình quân khoảng 40 kg/người/năm. Đây là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp mở rộng thị trường, nhất là khi nhu cầu tiêu dùng đang chuyển từ sản phẩm tươi sống sang các mặt hàng tiện lợi, an toàn và có nguồn gốc rõ ràng.
Trong khi đó, năng lực sản xuất của ngành đã được nâng lên đáng kể. Theo Cục Thống kê, năm 2025, tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 9,95 triệu tấn, tăng 3% so với năm trước; kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 11,3 tỷ USD. Trong 8 tháng năm 2026, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%.
Những con số này cho thấy bài toán của ngành không còn đơn thuần là tăng sản lượng mà phải nâng giá trị trên từng sản phẩm và đa dạng hóa thị trường. Khi doanh nghiệp đã đầu tư nhà máy, công nghệ chế biến và hệ thống kiểm soát chất lượng để chinh phục các thị trường khó tính, việc đưa một phần sản phẩm đó trở lại thị trường trong nước có thể tạo thêm giá trị.
Đưa hàng xuất khẩu đến gần hơn với người tiêu dùng
Nếu trước đây thủy sản tiêu thụ trong nước chủ yếu là hàng tươi sống, đông lạnh hoặc sơ chế, thì nay doanh nghiệp bắt đầu chú trọng các dòng chế biến sâu, đóng gói nhỏ, tiện lợi và phù hợp với nhịp sống hiện đại. Sự thay đổi này đang tạo ra là lợi thế đáng kể cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
Nhiều nhà máy đã đầu tư hệ thống cấp đông, chế biến, đóng gói và kiểm soát an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế. Khi điều chỉnh quy cách, khẩu phần, bao bì và giá bán phù hợp với nhu cầu nội địa, những sản phẩm vốn dành cho thị trường nước ngoài hoàn toàn có thể trở thành lựa chọn của các gia đình Việt.
Sự kết hợp giữa sản phẩm đạt chuẩn xuất khẩu và các kênh phân phối hiện đại có thể tạo ra thay đổi đáng kể về thói quen tiêu dùng. Người mua không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn chú ý đến nguồn gốc, tiêu chuẩn sản xuất, độ an toàn, tính tiện lợi và khả năng chế biến nhanh.
Dư địa thị trường nội địa lớn song vẫn chưa tạo doanh thu tương xứng với năng lực của doanh nghiệp thủy sản. Theo VASEP, doanh số trong nước tại nhiều doanh nghiệp còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ, điều này cho thấy khoảng cách đáng kể giữa năng lực sản xuất và khả năng khai thác thị trường.
Do đó, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược riêng cho thị trường nội địa, từ nghiên cứu thị hiếu, phát triển sản phẩm, định giá đến xây dựng thương hiệu..Bến cạnh đó, phát triển của logistics lạnh và thương mại điện tử đang mở thêm kênh phân phối giúp doanh nghiệp mở rộng địa bàn tiêu thụ, trong khi các nền tảng số tạo điều kiện tiếp cận trực tiếp người mua, rút ngắn khoảng cách từ nhà máy đến người tiêu dùng. Cùng với đó, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc có thể trở thành lợi thế cạnh tranh.
Về dài hạn, mở rộng thị trường nội địa không làm giảm vai trò của xuất khẩu mà giúp doanh nghiệp đa dạng hóa đầu ra, thử nghiệm sản phẩm mới, nâng tỷ trọng chế biến sâu và giảm rủi ro trước biến động quốc tế. Đây cũng phù hợp với Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 theo Quyết định số 339/QĐ-TTg, hướng tới nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.
Khi sản phẩm đạt chuẩn xuất khẩu được điều chỉnh phù hợp về quy cách, giá bán và kênh phân phối, thị trường nội địa sẽ không chỉ là nơi tiêu thụ thêm sản lượng mà còn trở thành không gian nâng giá trị gia tăng, xây dựng thương hiệu và tạo bệ đỡ cho xuất khẩu.
Trong bối cảnh xuất khẩu tiếp tục là động lực chủ lực, xuất khẩu thủy sản tìm về thị trường nội địa đang mở thêm một hướng phát triển cho doanh nghiệp. Với hơn 100 triệu dân, sức mua còn nhiều dư địa và năng lực chế biến ngày càng cao, thị trường trong nước có thể trở thành bệ đỡ quan trọng để ngành thủy sản nâng giá trị, mở rộng đầu ra và phát triển bền vững.
Trang Nguyên
Nguồn Tạp chí Kinh tế Tài Chính

