Xuất khẩu rau quả tăng mạnh, doanh nghiệp vẫn khó vay vốn dài hạn
Kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng trưởng tích cực, nhưng doanh nghiệp vẫn gặp khó khi tiếp cận vốn, nhất là để phát triển vùng nguyên liệu và chế biến sâu.
Tại tọa đàm “Doanh nghiệp tìm vốn cho chu kỳ tăng trưởng mới” do báo Dân trí tổ chức ngày 13/10, ông Nguyễn Văn Mười – Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp Nông nghiệp Nhiệt đới (COTAB) cho rằng, doanh nghiệp ngành rau củ quả đang cần nguồn vốn dài hạn phù hợp với chu kỳ sản xuất, thay vì phụ thuộc vào các khoản vay ngắn hạn cho từng hợp đồng xuất khẩu.

Các chuyên gia tham dự tọa đàm “Doanh nghiệp tìm vốn cho chu kỳ tăng trưởng mới” do báo Dân trí tổ chức ngày 13/10 (Ảnh: Nam Anh).
Chi phí logistics tăng mạnh, doanh nghiệp thêm áp lực vốn
Trong 9 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt khoảng 7,35 tỷ USD, tăng khoảng 20% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy dư địa tăng trưởng của ngành còn lớn, nhưng đằng sau những con số tích cực, doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với áp lực chi phí đầu vào và bài toán nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Theo ông Nguyễn Văn Mười, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp Nông nghiệp Nhiệt đới (COTAB), những biến động trên thế giới thời gian qua, đặc biệt là xung đột tại Trung Đông từ cuối tháng 2, đã đẩy chi phí năng lượng tăng cao. Với nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, những biến động này tạo ra tác động đáng kể đến hoạt động của doanh nghiệp.
Riêng ngành rau quả, chi phí logistics có thời điểm tăng mạnh khiến áp lực chi phí cũng tăng theo. Trong ngắn hạn, doanh nghiệp có thể tìm cách xoay xở để vượt qua những trở ngại trước mắt, tuy nhiên, nếu giá năng lượng tiếp tục duy trì ở mức cao, áp lực chi phí sẽ trở thành thách thức lớn trong dài hạn.
Trong bối cảnh đó, nhu cầu vốn của doanh nghiệp càng trở nên cấp thiết. Không chỉ cần nguồn tiền để duy trì hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp còn phải có nguồn lực đầu tư vùng nguyên liệu, bảo đảm chất lượng sản phẩm và nâng cao năng lực chế biến để đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Đặc thù của ngành nông nghiệp, nhất là xuất khẩu rau quả tươi đang khiến doanh nghiệp gặp nhiều trở ngại khi tiếp cận nguồn vốn. Các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư và ngân hàng thường ưu tiên những lĩnh vực có mức độ rủi ro thấp.
Trong ngành rau quả, doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu thường có lợi thế hơn so với doanh nghiệp kinh doanh trái cây tươi khi tìm kiếm nguồn vốn. Tuy vậy, tỉ lệ chế biến sâu của rau củ quả Việt Nam hiện vẫn chưa cao.
Xuất khẩu hàng tỷ USD vẫn khó chủ động nguồn vốn
Theo ông Mười, hoạt động xuất nhập khẩu của ngành rau quả chịu tác động đáng kể từ biến động tỷ giá. Dù phần lớn sản lượng được xuất khẩu và mang ngoại tệ về cho đất nước, ngành vẫn cần nhập khẩu một lượng lớn các mặt hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất và chế biến.
Như năm 2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 5,8-5,86 tỷ USD rau quả, trong khi kim ngạch nhập khẩu ngành hàng này đạt khoảng 3 tỷ USD. Trong 8 tháng đầu năm nay, giá trị nhập khẩu cũng vào khoảng 2 tỷ USD.
Vì vậy, khi tỷ giá biến động, chi phí nhập khẩu nguyên liệu phục vụ chế biến có thể tăng lên, gây thêm áp lực đối với doanh nghiệp. Việc quản trị rủi ro tỷ giá trở thành vấn đề cần được tính đến, nhất là với những doanh nghiệp vừa xuất khẩu thành phẩm, vừa nhập khẩu đầu vào.
Hay như sầu riêng, mặt hàng đóng góp khoảng 35-45% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam nhưng cũng loay hoay tìm vốn để phát triển bền vững.
Cụ thể, kể từ khi được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc theo Nghị định thư vào tháng 7/2022, ngành hàng này ghi nhận mức tăng trưởng đáng chú ý.
Dù quy mô xuất khẩu mở rộng, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc huy động vốn để phát triển vùng nguyên liệu và bảo đảm chất lượng sản phẩm. Đây là những khoản đầu tư đòi hỏi nguồn lực lớn, trong khi hiệu quả không thể thu được ngay trong thời gian ngắn.
Theo ông Mười, doanh nghiệp trong ngành hiện vẫn chủ yếu vay vốn theo từng hợp đồng xuất khẩu. Sau khi hoàn thành một thương vụ, doanh nghiệp lại tiếp tục vay để thực hiện hợp đồng tiếp theo.
Cách làm này có thể đáp ứng nhu cầu vốn lưu động trước mắt, nhưng khó tạo nền tảng tài chính ổn định cho những kế hoạch phát triển dài hạn. Chẳng hạn, khi doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu, liên kết sản xuất với hàng nghìn nông dân, nguồn lực cần bỏ ra không chỉ nằm ở một vụ thu hoạch hay một hợp đồng xuất khẩu, mà còn bao gồm quá trình tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và duy trì chuỗi cung ứng.
Nếu chỉ dựa vào những khoản vay ngắn hạn, doanh nghiệp sẽ khó chủ động nguồn lực để theo đuổi các mục tiêu dài hơi.
Trong bối cảnh hiện nay, ông Mười cho rằng doanh nghiệp không thể phụ thuộc hoàn toàn vào tín dụng ngân hàng, vì lãi suất biến động liên tục, làm tăng chi phí tài chính và ảnh hưởng đến khả năng chủ động trong hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp cần từng bước đa dạng hóa nguồn vốn, hướng đến những nguồn đầu tư dài hạn để xây dựng kế hoạch phát triển ổn định và bền vững hơn.
Dù vậy, việc tiếp cận các quỹ đầu tư hay những kênh huy động vốn khác không đơn giản. Nhiều doanh nghiệp nông nghiệp khởi đầu với quy mô nhỏ, năng lực quản trị và quản lý dòng tiền còn hạn chế, trong khi nhà đầu tư thường đặt ra các yêu cầu chặt chẽ về tài chính, tính minh bạch và hồ sơ hoạt động.
Theo ông Mười, để huy động được nguồn vốn ngoài ngân hàng, doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống quản trị bài bản, minh bạch hóa quá trình sản xuất, kinh doanh và quản lý dòng tiền. Đây là quá trình cần thời gian, khó có thể giải quyết ngay lập tức.
Cần dòng vốn dài hạn cho nông nghiệp tuần hoàn
Từ thực tế trên, ông Mười cho rằng các nguồn vốn, bao gồm vốn ngân hàng và vốn từ quỹ đầu tư, cần được thiết kế phù hợp với đặc thù và mục đích sử dụng của doanh nghiệp rau quả.
Nếu doanh nghiệp đầu tư dài hạn nhưng chỉ tiếp cận được khoản vay ngắn hạn, hiệu quả sử dụng vốn sẽ bị hạn chế. Một dự án phát triển vùng nguyên liệu cần thời gian để tổ chức sản xuất, xây dựng liên kết với nông dân và thu hồi vốn. Vì vậy, nguồn tài chính phải được bố trí phù hợp với từng giai đoạn triển khai, thay vì chỉ đáp ứng nhu cầu vốn cho từng thương vụ riêng lẻ.
Việc xây dựng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp cũng là cần thiết. Để các mô hình kinh tế tuần hoàn có thể được nhân rộng, cần có chính sách khuyến khích cụ thể, giúp doanh nghiệp giải quyết bài toán chi phí và bảo đảm hiệu quả đầu tư. Khi dự án được thiết kế phù hợp và có nguồn tài chính xuyên suốt, khả năng triển khai thành công sẽ cao hơn.
Với ngành rau quả, nguồn vốn phù hợp không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động xuất khẩu mà còn tạo điều kiện đầu tư vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng và phát triển chế biến sâu. Đây cũng là cơ sở để xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất bền vững hơn giữa doanh nghiệp và nông dân.
Thuận Hải
Nguồn Dân Trí
