Xuất khẩu thủy sản Việt Nam tăng 11,5%, Brazil nổi lên như thị trường tiềm năng
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 9,1 tỷ USD trong chín tháng đầu năm 2026, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước.
Brazil là một trong những thị trường tăng trưởng nổi bật khi nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam tăng 30,5% về lượng và 41% về trị giá trong bảy tháng đầu năm. Tuy nhiên, cạnh tranh về giá tại Trung Quốc, sức mua thận trọng ở Mỹ và yêu cầu kỹ thuật tại các thị trường lớn tiếp tục tạo sức ép lên doanh nghiệp.
Xuất khẩu tăng trưởng, Brazil gia tăng nhập khẩu thủy sản Việt Nam
Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong tháng 9/2026 đạt 1,13 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung chín tháng đầu năm, kim ngạch đạt 9,1 tỷ USD, tăng 11,5%.
Xuất khẩu sang nhiều thị trường ghi nhận kết quả tích cực, gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia, Anh, Thái Lan, Canada, Brazil, Nga, Đài Loan, Đức và Hà Lan. Trong đó, Brazil nổi bật với mức tăng 130,7% trong tháng 9 và tăng 53,2% trong chín tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước.
Theo số liệu của Trung tâm Thương mại Thế giới (ITC), bảy tháng đầu năm 2026, Brazil nhập khẩu 190,18 nghìn tấn thủy sản, trị giá 1,02 tỷ USD, tăng 8,7% về lượng và 13,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Riêng nhập khẩu từ Việt Nam đạt 48,2 nghìn tấn, trị giá 147,92 triệu USD, tăng 30,5% về lượng và 41% về trị giá. Việt Nam là nhà cung cấp thủy sản lớn thứ hai của Brazil, chiếm 25,35% tổng lượng và 14,48% tổng trị giá nhập khẩu.
Nhu cầu đối với cá thịt trắng đang tạo dư địa cho thủy sản Việt Nam tại thị trường này. Quá trình đô thị hóa và xu hướng sử dụng thực phẩm tiện lợi, giàu dinh dưỡng thúc đẩy nhu cầu nhập khẩu, trong khi nguồn cung nội địa Brazil chưa đáp ứng đầy đủ. Cá tra và cá rô phi phi lê của Việt Nam có lợi thế về giá thành, kết cấu thịt và khả năng đáp ứng nhu cầu chế biến thực phẩm.
Tuy nhiên, Brazil áp dụng các yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, an toàn sinh học và kiểm dịch động thực vật. Doanh nghiệp muốn duy trì đà tăng trưởng cần kiểm soát chất lượng, bảo đảm hồ sơ truy xuất nguồn gốc và tuân thủ quy định nhập khẩu của thị trường.
Cạnh tranh tại Trung Quốc, sức mua Mỹ và tiêu chuẩn nhập khẩu
Trung Quốc tiếp tục là thị trường có vai trò quan trọng đối với xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong những tháng cuối năm. Nhu cầu có thể tăng đối với tôm tươi sống, tôm đông lạnh, cá tra tươi và chế biến, cua ghẹ cùng các mặt hàng thủy hải sản cao cấp phục vụ dịp Tết Nguyên đán.
Tuy nhiên, nguồn cung nội địa Trung Quốc phục hồi từ tháng 9 và lượng tôm nhập khẩu giá cạnh tranh từ Ecuador đang gây áp lực lên giá bán. Doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh trực tiếp về giá, thời gian giao hàng và khả năng cung ứng. Việc tập trung vào chất lượng, độ ổn định của nguồn hàng và các phân khúc phù hợp sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì thị phần.
Tại ASEAN và Hàn Quốc, nhu cầu tiêu thụ được đánh giá tương đối ổn định. Các sản phẩm cá thịt trắng, thủy sản đông lạnh tiện lợi và tôm thẻ cỡ nhỏ, trung bình có lợi thế nhờ giá hợp lý và thời gian giao hàng ngắn. Đây là những phân khúc doanh nghiệp có thể tiếp tục khai thác để duy trì đơn hàng.
Thị trường Mỹ đối mặt với những thách thức khác. Người tiêu dùng có xu hướng ưu tiên sản phẩm giá thấp khi chi phí sinh hoạt gây sức ép lên ngân sách hộ gia đình. Tiêu thụ thủy sản tươi và đông lạnh có dấu hiệu giảm nhẹ, trong khi các sản phẩm đóng hộp như cá ngừ, cá thu và cá thịt trắng có giá thành hợp lý như cá tra được chú ý hơn.
Nhu cầu tôm nhập khẩu tại Mỹ cũng chịu tác động từ việc doanh nghiệp duy trì tồn kho thấp và thận trọng trước các quy định kỹ thuật, bao gồm quy định liên quan đến bảo vệ động vật có vú biển (MMPA) và các biện pháp chống bán phá giá. Những yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán kỹ chi phí, kế hoạch giao hàng và khả năng đáp ứng yêu cầu của nhà nhập khẩu.
Tại Liên minh châu Âu (EU), các nhà nhập khẩu chú trọng sản phẩm có chứng nhận xanh, mức phát thải thấp và khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Nhật Bản cũng đặt yêu cầu tối ưu hóa chi phí nhập khẩu. Do đó, doanh nghiệp cần kiểm soát toàn bộ quy trình từ nguyên liệu, chế biến đến vận chuyển để đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.
Bên cạnh diễn biến xuất khẩu, giá nguyên liệu trong nước có sự phân hóa giữa các địa phương và mặt hàng. Tại Phú Yên, giá tôm sú nguyên liệu giữa tháng 10 duy trì ở mức 220.000 đồng/kg với cỡ 50 con/kg, 250.000 đồng/kg với cỡ 40 con/kg và 300.000 đồng/kg với cỡ 30 con/kg. Tôm thẻ cỡ 100 con/kg đạt 92.000 đồng/kg, tăng 5.000 đồng/kg so với giữa tháng 9.
Tại Cà Mau, tôm sú cỡ 20 con/kg giữ mức 300.000 đồng/kg, trong khi tôm sú cỡ 30 con/kg giảm 2.000 đồng/kg, xuống 171.000 đồng/kg. Tôm thẻ cỡ 20 con/kg giảm 3.000 đồng/kg, còn 260.000 đồng/kg. Biến động nguyên liệu ảnh hưởng đến kế hoạch thu mua và chi phí chế biến của doanh nghiệp.
Với kim ngạch xuất khẩu tăng trong chín tháng đầu năm, ngành thủy sản Việt Nam có cơ sở để tiếp tục mở rộng thị trường trong quý IV/2026. Tuy nhiên, tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào khả năng kiểm soát chi phí, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và điều chỉnh cơ cấu sản phẩm theo sức mua từng thị trường. Brazil mở ra dư địa đáng kể cho cá tra và cá rô phi, trong khi Trung Quốc, Mỹ, EU và Nhật Bản đòi hỏi doanh nghiệp có chiến lược thị trường và quản trị chất lượng phù hợp.
Phúc Minh
Nguồn Doanh Nghiệp và Đầu Tư

