Xuất nhập khẩu vượt 1.000 tỷ USD: Những nhóm hàng nào có triển vọng tăng trưởng?
Xuất nhập khẩu 10 tháng vượt 1.000 tỷ USD, tạo nền tảng để hàng Việt mở rộng thị trường năm 2027, song doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng thương hiệu.
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng cao trong 10 tháng năm 2026, với tổng kim ngạch ước đạt 1.010,6 tỷ USD, chính thức vượt mốc 1.000 tỷ USD.
Gỗ, dệt may, cà phê được kỳ vọng
Tại hội thảo về triển vọng xuất khẩu 2027 chiều 5/11, ông Nguyễn Tuấn Việt, Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến xuất khẩu VIETGO, dự báo tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam cả năm nay có thể vượt 1.200 tỷ USD.
Theo ông Việt, Việt Nam có ba lợi thế trong xuất khẩu gồm môi trường chính trị, kinh tế ổn định; vị trí địa lý thuận lợi cho logistics và mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA).
“Việt Nam có đường bờ biển dài, nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế, tạo thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa và giảm chi phí logistics. Bên cạnh đó, các FTA giúp hàng hóa Việt Nam hưởng ưu đãi thuế quan, tăng khả năng cạnh tranh tại thị trường quốc tế”, ông nói.
Ông dẫn ví dụ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), với lộ trình cắt giảm thuế cho nhiều mặt hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng quy tắc xuất xứ và các tiêu chuẩn nhập khẩu để tận dụng ưu đãi.
Từ những lợi thế trên, ông Việt cho rằng doanh nghiệp Việt Nam còn dư địa mở rộng xuất khẩu trong năm 2027, nhất là với các nhóm hàng đồ gỗ nội ngoại thất, hàng dệt may, giày dép; linh kiện điện tử, linh kiện ô tô, tàu thuyền, băng tải…
Theo ông, nhu cầu xây dựng, đô thị hóa tại Ấn Độ và Trung Quốc tạo cơ hội cho sản phẩm gỗ, đặc biệt là ván bóc làm nguyên liệu sản xuất gỗ dán. Trong khi đó, các mặt hàng quế, hồi, hồ tiêu, ớt, gừng, nghệ, tỏi có triển vọng tại Ấn Độ và Trung Đông.
Cà phê cũng được kỳ vọng tăng trưởng. Việt Nam hiện là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới. Ông Việt dự báo kim ngạch mặt hàng này có thể đạt 9-10 tỷ USD trong năm 2026 và 2027, đồng thời còn dư địa tăng nếu đẩy mạnh chế biến, xây dựng thương hiệu.
“Ngoài ra, gạo, hạt điều, trái cây chế biến, sản phẩm nhựa, vật liệu xây dựng… cũng có cơ hội mở rộng thị trường. Trong đó, Trung Đông và Ấn Độ là hai thị trường đáng chú ý nhờ nhu cầu về thực phẩm, gia vị, đồ gỗ và vật liệu xây dựng”, vị này nhìn nhận.
Tuy nhiên, xuất khẩu sang Trung Đông tiềm ẩn rủi ro về vận tải và thanh toán. Theo ông Việt, cước vận chuyển container 40 feet đến khu vực này có thời điểm tăng từ mức 1.500-2.000 USD lên 4.000-6.000 USD.
“Tình trạng thiếu chỗ trên tàu, gián đoạn đặt chỗ vận chuyển cũng ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng, nhất là với hàng tươi sống. Doanh nghiệp cần chủ động phương án vận tải, bảo quản và thẩm định kỹ đối tác”, ông Việt lưu ý.
Bên cạnh logistics, nguồn nguyên liệu và quy tắc xuất xứ cũng là thách thức. Với ngành dệt may, doanh nghiệp cần đa dạng hóa nguồn cung, phát triển nguyên liệu trong nước để đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi FTA. Ngành gỗ cần bảo đảm nguồn nguyên liệu, minh bạch xuất xứ và kiểm soát chuỗi cung ứng.
Ông Việt cho rằng doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy bán những gì mình có sang tìm hiểu nhu cầu thực tế của khách hàng. Việc phát triển sản phẩm chế biến mới, chẳng hạn từ thanh long, cần gắn với thị trường tiêu thụ cụ thể, tránh đầu tư khi chưa xác định được sức mua. Ngoài ra, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cung ứng, ứng dụng công nghệ và tăng cường liên kết với các nhà sản xuất.
Doanh nghiệp cần nâng tầm vị thế trên thị trường quốc tế
Không chỉ mở rộng mặt hàng và thị trường xuất khẩu, việc nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng là yêu cầu được đặt ra với doanh nghiệp Việt Nam.
Trước đó, tại Diễn đàn Xúc tiến xuất khẩu Việt Nam 2026 ngày 4/11, ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), cho rằng hoạt động vươn ra thị trường quốc tế không nên chỉ dừng ở thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa mà cần hướng tới xây dựng năng lực cạnh tranh, phát triển thương hiệu và gia tăng sự hiện diện của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
Dẫn kinh nghiệm của các tập đoàn lớn như Haier (Trung Quốc), Toyota (Nhật Bản) và Samsung (Hàn Quốc), ông Phú cho rằng vị thế quốc tế phải được xây dựng trên nền tảng chất lượng sản phẩm, năng lực sản xuất, công nghệ và quản trị. Đây là quá trình dài hạn, đòi hỏi doanh nghiệp kiên trì đầu tư và thích ứng với yêu cầu của từng thị trường.
Theo ông Phú, sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã hình thành nền tảng xuất khẩu tương đối vững chắc, với mạng lưới 18 hiệp định thương mại tự do (FTA) và kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 1.000 tỷ USD trong 10 tháng năm 2026.
Tuy nhiên, thị trường quốc tế ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng, tiêu chuẩn, phát triển xanh và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, doanh nghiệp cần chuyển từ xuất khẩu đơn thuần sang tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, phát triển thương hiệu và xây dựng hệ thống phân phối tại nước ngoài.
Chương trình Go Global (vươn ra toàn cầu) được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định 626 cũng hướng tới mục tiêu này. Chương trình xác định 4 hướng đi gồm xuất khẩu hàng hóa, thương mại xuyên biên giới, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và hiện diện, đầu tư tại nước ngoài. Một trong những mục tiêu đáng chú ý là hỗ trợ ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo ông Phú, mở rộng không gian phát triển đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải thay đổi tư duy kinh doanh, coi thị trường quốc tế là một không gian hoạt động thường xuyên, thay vì chỉ tập trung vào thị trường trong nước. Tư duy vươn ra nước ngoài cần trở thành một định hướng phát triển phổ biến, không chỉ với các tập đoàn lớn mà cả doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thanh Thương
Nguồn vasep

