Gỡ vướng kiểm tra an toàn thực phẩm, tạo thuận lợi cho nhập khẩu thủy sản đông lạnh
Ngày 09/9/2026, Cục Chăn nuôi và Thú y, thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có công văn 3486/CNTY-KD&TYCĐ gửi Cục Hải quan về việc kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm NK đối với thực phẩm có nguồn gốc động vật trên cạn, thuỷ sản. Cục Chăn nuôi và Thú y đề xuất sử dụng kết quả kiểm dịch đối với sản phẩm động vật, thủy sản nhập khẩu làm căn cứ phục vụ thông quan, đồng thời tháo gỡ những bất cập trong thực hiện Nghị định 15/2018/NĐ-CP về kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu. Đây được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm giảm thủ tục hành chính, hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải cung cấp nhiều loại hồ sơ cho cùng một lô hàng.
Ngày 10/9/2026, Cục Hải quan đã có Công văn 21545/CHQ-GSQL chỉ đạo các Chi cục Hải quan khu vực căn cứ nội dung công văn số 3486/CNTY-KD&TYCĐ của Cục Chăn nuôi và Thú y – Bộ Nông nghiệp và Môi trường, công văn số 358/TY-KD ngày 08/3/2019 của Cục Thú y (nay là Cục Chăn nuôi và Thú y) và công văn số 3581/BNN-QLCL ngày 23/5/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) để chỉ đạo các đơn vị Hải quan trực thuộc nghiên cứu, thực hiện khi làm thủ tục hải quan đối với từng loại thực phẩm có nguồn gốc động vật trên cạn, động vật thủy sản nhập khẩu.
Công văn số 3486/CNTY-KD&TYCĐ của Cục Chăn nuôi và Thú y cho biết, theo phản ánh của doanh nghiệp nhập khẩu, trong quá trình thực hiện các quy định về kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu có nguồn gốc động vật, thủy sản, một số lô hàng gặp khó khăn khi thông quan do phát sinh yêu cầu đồng thời nhiều loại giấy tờ, trong đó có Giấy chứng nhận kiểm dịch nhập khẩu và Thông báo kết quả xác nhận thực phẩm đạt yêu cầu nhập khẩu.
Trước thực tế này, cơ quan chuyên ngành đã đề xuất phối hợp với cơ quan Hải quan để tháo gỡ, tránh tình trạng hàng hóa bị ách tắc tại cửa khẩu. Theo đó, đối với các lô hàng sản phẩm động vật trên cạn và sản phẩm thủy sản nhập khẩu làm thực phẩm đã được cấp giấy chứng nhận kiểm dịch theo quy định, doanh nghiệp có thể sử dụng các giấy tờ này để thực hiện thủ tục thông quan, với điều kiện giấy chứng nhận thể hiện rõ mục đích sử dụng của lô hàng.
Cụ thể, đối với sản phẩm động vật trên cạn là Giấy chứng nhận kiểm dịch sản phẩm động vật nhập khẩu (mẫu 15b); đối với sản phẩm động vật thủy sản là Giấy chứng nhận kiểm dịch sản phẩm động vật thủy sản nhập khẩu (mẫu 10TS) theo các quy định chuyên ngành hiện hành.
Giảm kiểm tra với cơ sở sản xuất áp dụng hệ thống quản lý chất lượng
Một nội dung đáng chú ý khác là việc áp dụng phương thức kiểm tra giảm đối với một số sản phẩm nhập khẩu đáp ứng điều kiện về quản lý an toàn thực phẩm.
Theo quy định được cơ quan chuyên ngành hướng dẫn, sản phẩm động vật, thủy sản nhập khẩu có thể được xem xét áp dụng kiểm tra giảm nếu được sản xuất tại các cơ sở áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng như GMP, HACCP, ISO 22000, IFS, BRC, FSSC 22000 hoặc hệ thống tương đương và đáp ứng các yêu cầu theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP.
Việc chuyển sang phương thức kiểm tra giảm được kỳ vọng giúp giảm thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí lưu kho, lưu bãi đối với doanh nghiệp nhập khẩu, đồng thời tập trung nguồn lực quản lý vào các nhóm hàng hóa có nguy cơ cao.
Để triển khai thống nhất, cơ quan quản lý cũng đề nghị xây dựng, cung cấp danh sách các cơ sở sản xuất, tổ chức, cá nhân nhập khẩu đủ điều kiện áp dụng kiểm tra giảm; đồng thời cần có hướng dẫn thống nhất về tiêu chí xác định cơ sở áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm.
Bất cập trong quy định về tự công bố sản phẩm cần tiếp tục tháo gỡ
Bên cạnh những điểm được tháo gỡ, các văn bản cũng chỉ ra một điểm chưa thống nhất trong thực hiện Nghị định 15/2018/NĐ-CP liên quan đến hồ sơ tự công bố sản phẩm.
Cụ thể, quy định về hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu yêu cầu có bản tự công bố sản phẩm. Tuy nhiên, một quy định khác lại xác định một số sản phẩm động vật trên cạn và thủy sản đông lạnh chưa qua chế biến, chưa bao gói sẵn không thuộc đối tượng phải tự công bố sản phẩm.
Sự khác nhau này dẫn tới cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa doanh nghiệp và cơ quan thực hiện, làm phát sinh thêm thủ tục hành chính trong quá trình nhập khẩu. Cơ quan chuyên ngành đã đề nghị cơ quan Hải quan xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi nhằm bảo đảm thống nhất trong thực hiện.
Doanh nghiệp kỳ vọng quy trình kiểm tra minh bạch, thống nhất hơn
Theo đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp, việc tháo gỡ các yêu cầu hồ sơ chồng chéo trong kiểm tra thực phẩm nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh chuỗi cung ứng thủy sản ngày càng phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
Đối với ngành thủy sản, nhiều doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu như cá, tôm, mực, bạch tuộc, nguyên liệu chế biến và các sản phẩm thủy sản đông lạnh để phục vụ sản xuất, chế biến xuất khẩu. Vì vậy, bất kỳ sự chậm trễ nào tại khâu kiểm tra, thông quan đều có thể làm gia tăng chi phí logistics, chi phí lưu kho lạnh và ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất, giao hàng.
Việc sử dụng kết quả kiểm dịch làm cơ sở xử lý thủ tục, áp dụng kiểm tra giảm đối với các cơ sở có hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tốt sẽ góp phần chuyển phương thức quản lý từ kiểm tra đại trà sang quản lý theo mức độ rủi ro.
Tuy nhiên, để chính sách đi vào thực tế, doanh nghiệp mong muốn các cơ quan quản lý sớm có hướng dẫn thống nhất giữa các lực lượng thực thi, đặc biệt trong việc xác định đối tượng kiểm tra, hồ sơ cần nộp, tiêu chí áp dụng kiểm tra giảm và cơ chế phối hợp giữa cơ quan chuyên ngành với Hải quan.
Kim Thu
Nguồn vasep

