Xuất khẩu rau quả chế biến thu gần 1,4 tỷ USD
Sau 7 tháng, xuất khẩu rau quả chế biến đạt 1,35 tỷ USD, tăng 33% so với cùng kỳ và nhanh hơn mức tăng trưởng của hàng tươi.
Theo số liệu mới nhất từ Cục Hải quan, xuất khẩu rau quả chế biến đạt 1,35 tỷ USD trong 7 tháng, tăng 33% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là nhóm có tốc độ tăng cao trong ngành rau quả, dù kim ngạch vẫn thấp hơn đáng kể so với hàng tươi – nhóm đạt 3,15 tỷ USD, tăng 21,7%.
Đà tăng đến từ nhiều mặt hàng. Trong nhóm có kim ngạch lớn, chanh leo tăng 35,5%, xoài tăng 22,4% và dừa chế biến tăng 8,6% so với cùng kỳ. Một số sản phẩm tăng mạnh hơn, như mắc ca chế biến tăng 345,7%, khoai tây 82,6% và mãng cầu 52,8%.
Nhờ tăng nhanh hơn, nhóm chế biến chiếm khoảng 28% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả sau 7 tháng, tăng 2 điểm % so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, nhu cầu thị trường đang mở rộng đối với các sản phẩm sơ chế, đông lạnh và chế biến sâu. So với hàng tươi, những sản phẩm này có thời gian bảo quản dài hơn, ít phụ thuộc mùa vụ và thuận lợi hơn trong vận chuyển.
Doanh nghiệp có thể phát triển nhiều dạng sản phẩm từ cùng một loại nguyên liệu như sầu riêng đông lạnh, cơm sầu riêng, puree, xoài đông lạnh hay chanh leo cô đặc để cung ứng cho ngành bánh kẹo, kem và đồ uống. Trái cây sấy, bột rau củ cũng có lợi thế về thời gian bảo quản và vận chuyển.
Dừa là một trong những nhóm có thể phát triển song song cả hàng tươi và chế biến. Theo ông Nguyên, nhu cầu từ ngành đồ uống và tiêu dùng tại các thị trường lớn còn dư địa, trong khi việc chuẩn hóa sơ chế, đóng gói và bảo quản lạnh có thể giúp nâng giá trị sản phẩm thay vì chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu.
Tuy nhiên, để mở rộng chế biến, doanh nghiệp phải giải quyết bài toán nguyên liệu. Nhà máy cần nguồn cung đủ lớn, ổn định và đồng đều về chất lượng, trong khi vùng trồng hiện còn phân tán. Việc kiểm soát quy trình sản xuất và chất lượng đầu vào vì vậy trở thành điều kiện quan trọng để duy trì công suất.
Vốn và hạ tầng chuỗi lạnh cũng là nút thắt. Đầu tư chế biến đòi hỏi doanh nghiệp bỏ tiền cho nhà xưởng, máy móc, đồng thời phải mua và lưu kho nguyên liệu trước khi sản xuất. Dòng tiền chỉ quay về sau khi sản phẩm được tiêu thụ, khiến thời gian thu hồi vốn dài hơn so với thu mua và xuất khẩu hàng tươi.
Do đó, chuyên gia cho rằng cần các chính sách tín dụng có thời hạn đủ dài và ổn định để doanh nghiệp đầu tư công nghệ, mở rộng công suất và chủ động nguồn nguyên liệu. Kho lạnh và logistics chuỗi lạnh cần được phát triển từ vùng nguyên liệu đến các trung tâm logistics và cửa khẩu, giúp duy trì chất lượng sản phẩm trong suốt quá trình xuất khẩu.
Thi Hà
Nguồn vnexpress

