Hóa đơn đang làm khó đường đi từ vườn cây đến doanh nghiệp
Hoạt động thu mua, chế biến, xuất khẩu rau quả của doanh nghiệp với nông dân đang đối diện với nguy cơ đình trệ trước một số quy định về hóa đơn, chứng từ của ngành thuế.
Hóa đơn, vướng ở đâu?
Mới đây, Hiệp hội Rau quả Việt Nam đã kiến nghị Cục Thuế gỡ vướng cho doanh nghiệp và các nông hộ. Nguyên nhân, do một số quy định về chứng từ trong mua bán giữa doanh nghiệp và hộ sản xuất gây khó khăn cho doanh nghiệp. Hiệp hội đề nghị Cục xem xét, giải quyết vấn đề thuế giá trị gia tăng (VAT) đầu vào cho sản xuất.
Theo đại diện một số doanh nghiệp, muốn có nguyên liệu rau, củ quả… dùng để xuất khẩu hay chế biến, các công ty phải mua từ nông hộ. Phần lớn nông dân sản xuất quy mô nhỏ, hộ gia đình trực tiếp bán trái cây, rau màu tại vườn không có mã số thuế, không sở hữu hệ thống phần mềm kế toán hay hạ tầng công nghệ để phát hành hóa đơn điện tử mỗi khi giao dịch.
Theo quy định, doanh nghiệp mua hàng nông sản không có hóa đơn phải lập Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ kèm theo hợp đồng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy nhiên, ở rất nhiều khu vực, doanh nghiệp nhập nguyên liệu qua nhiều tầng nấc thương lái thu mua từ nhiều nông hộ canh tác nhỏ lẻ. Thương lái không có thói quen ghi chép, lập bảng… khi mua bán nên khi cơ quan thuế siết chặt quản lý nguồn gốc minh bạch từng khâu, doanh nghiệp gặp khó khăn.
Lâu nay, nông sản chưa chế biến hoặc qua sơ chế thông thường khi bán ra thuộc đối tượng không chịu VAT hoặc không phải kê khai, tính nộp thuế VAT. Doanh nghiệp mua vào không có thuế VAT đầu vào để khấu trừ, trong khi việc không có chứng từ đồng bộ từ gốc khiến dữ liệu số của chuỗi cung ứng bị đứt gãy, gây khó khăn cho việc hoàn thuế hay chứng minh nguồn gốc với các thị trường quốc tế khó tính như EU, Mỹ.
Nông hộ khó thay đổi nhanh
Nằm trong nhóm các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu rau quả đi các thị trường khắt khe (EU, Mỹ, Nhật Bản), hàng năm Công ty Cổ phần Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Giao (Doveco) thu mua nguồn nguyên liệu khổng lồ (dứa, ngô, đậu, rau quả các loại) từ hàng vạn hộ nông dân liên kết ở các vùng nguyên liệu Tây Nguyên, phía Bắc và miền Trung.
Theo đại diện doanh nghiệp này, vướng mắc lớn nhất là việc gom hàng từ nông hộ nhỏ lẻ rất khó đồng bộ hóa đơn điện tử từng hộ, trong khi các tiêu chuẩn xuất khẩu quốc tế lại đòi hỏi tính minh bạch tối đa từ gốc rễ nông trại.
Tương tự, đại diện Công ty TNHH MTV Chế biến Rau quả xuất khẩu Cần Thơ (Caspurco) và các đơn vị chuyên thu mua sầu riêng, xoài, thanh long, mít. Do thói quen giao dịch truyền thống, thương lái và nông dân thường nhận tiền mặt hoặc chuyển khoản cá nhân, việc áp dụng chứng từ, bảng kê thu mua theo đúng chuẩn kiểm toán hiện hành, khiến họ không khỏi âu lo về hóa đơn đầu vào.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp như Tập đoàn Lộc Trời hoặc các doanh nghiệp có mảng kinh doanh xuất khẩu nông sản/lương thực tích hợp cũng quay cuồng. Dù mạnh về lúa gạo, nhưng các đơn vị này và các chi nhánh khi mở rộng sang chuỗi cung ứng rau quả, trái cây tươi xuất khẩu cũng gặp vướng mắc chung khi phải làm việc với các hợp tác xã (HTX) và nông hộ.
Thực tế cho thấy, không phải HTX hay nông hộ nào cũng thuần thục việc xuất hóa đơn điện tử theo từng lô hàng thu mua nông sản tươi sống. Hậu quả là dẫn đến sự chênh lệch, “vênh” nhau giữa lượng hàng xuất khẩu thực tế và hệ thống chứng từ đầu vào hợp chuẩn, gây khó dễ cho khâu quyết toán và hoàn thuế.
Ngành Thuế nói gì?
Trước những kiến nghị tháo gỡ từ phía Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Cục Thuế đã viện dẫn các quy định hiện hành tại Nghị định số 141/2026 (sửa đổi, bổ sung Nghị định số 68/2026) và Nghị định số 254/2026 của Chính phủ về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử để làm rõ trách nhiệm của các hộ sản xuất.
Theo đó, nhóm doanh thu trên 1 tỷ đồng/năm, bắt buộc phải áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế…
Với nhóm doanh thu dưới 1 tỷ đồng hoặc mới ra kinh doanh, nếu chưa đạt ngưỡng doanh thu trên nhưng có nhu cầu vẫn có thể đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử. Đặc biệt, trường hợp phát sinh doanh thu vượt 1 tỷ đồng trong năm tính thuế, hộ kinh doanh có thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng của kỳ tính thuế để hoàn tất thủ tục đăng ký.
Điểm mấu chốt được cơ quan thuế nhấn mạnh là đối với hộ, cá nhân kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ thuộc trường hợp được lập bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp thì không bắt buộc phải sử dụng hóa đơn điện tử, trừ khi họ đã đăng ký sử dụng.
Với kiến nghị thuế VAT đầu vào của Hiệp hội rau quả, Cục Thuế cho biết do chưa nhận được hồ sơ hay tài liệu cụ thể của từng vụ việc nên cơ quan này đưa ra ý kiến trên bình diện các quy định pháp luật chung. Nhưng theo cơ quan này, nguyên tắc xuyên suốt trong luật pháp về thuế VAT là xác định theo hàng hóa, dịch vụ, tuyệt đối không phân biệt đối tượng hay mục đích sử dụng. Đồng thời, Luật Thuế VAT không có điều khoản quy định về việc miễn, giảm thuế VAT.
Cũng theo Cục Thuế, nếu không chịu thuế GTGT, chỉ áp dụng cho các sản phẩm chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc mới chỉ qua sơ chế thông thường (cây trồng, chăn nuôi, thủy sản…). Doanh nghiệp hoặc hợp tác xã mua các sản phẩm này để bán lại cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nhưng vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Các sản phẩm giống vật nuôi, vật liệu nhân giống cây trồng, thức ăn chăn nuôi và thủy sản cũng nằm trong diện không chịu thuế…
Cục Thuế cho rằng, việc xây dựng một cơ chế chính sách thuế GTGT đầu vào dành riêng cho hoạt động nông nghiệp có thể làm phát sinh hai hệ lụy lớn.
Đó là rất khó để liệt kê đầy đủ và chính xác tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ được coi là đầu vào đặc thù của lĩnh vực nông nghiệp do tính chất liên ngành và đa dạng của chuỗi sản xuất.
Việc thiết kế một chính sách thuế riêng biệt có thể tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người nộp thuế khi họ cùng sử dụng một loại hàng hóa, dịch vụ đầu vào trên thị trường.
Việc tuân thủ khung khổ pháp luật chung là điều kiện đương nhiên để đảm bảo sự minh bạch. Nhưng thực tế canh tác hiện nay, khoảng cách giữa văn bản luật và thực tế vận hành vẫn cần những giải pháp thấu đáo và linh hoạt hơn. Phải giải vướng mắc này, thì nông sản Việt mới không bị chững lại chỉ vì những rào cản về thủ tục, chứng từ.
Nguồn Nông Thôn Việt

