Thịt nhập siêu rẻ đổ bộ, chợ truyền thống bán giá bao nhiêu?
Xương heo có thịt giá 11.000 đồng/kg, sườn que giá 30.000 đồng/kg hay ba rọi giá chỉ hơn 80.000 đồng/kg… thịt nhập khẩu đang phủ khắp thị trường, từ các siêu thị đến chợ lẻ.
Một số nơi bán ghi rõ nguồn gốc xuất xứ nhưng nhiều cửa hàng trà trộn vào với thịt trong nước khiến người tiêu dùng không thể nhận diện.
Thịt nhập giá “rẻ sát sườn”
Sáng 5/10, theo chỉ dẫn của một chủ sạp thịt gà tại Chợ đầu mối nông sản thực phẩm Thủ Đức, phóng viên Dân trí tìm đến một kho thực phẩm đông lạnh trên đường Tỉnh lộ 43 (phường Tam Bình, TPHCM).
Tại đây, nhân viên kinh doanh của doanh nghiệp này cho biết, kho cung cấp tất cả các mặt hàng thịt nhập khẩu với giá rẻ hơn rất nhiều so với hàng “thịt nóng” trong nước. Nhiều quán ăn, nhà hàng hoặc các bếp ăn tập thể trong khu vực cũng là khách quen của kho thực phẩm đông lạnh này.
“Nếu chị mở quán ăn hay cung cấp cơm công nghiệp thì mua thịt nhập là đúng rồi. Thịt ở đây nhập khẩu trực tiếp từ nước ngoài, có đầy đủ giấy tờ và hạn sử dụng đều còn xa”, nhân viên này vừa giới thiệu, vừa chỉ vào những thùng giấy có in tem, nhãn và hạn sử dụng của sản phẩm để đầy trên sàn nhà.

Thùng thịt nhập khẩu được để trên sàn nhà, nhân viên chia vào các túi nilon màu đen để giao cho khách (Ảnh: Nam Bình)
Về giá bán, báo giá của kho đông lạnh này chỉ rõ, thịt ba rọi heo loại có xương nhập khẩu từ Nga (nhà sản xuất Miratorg) giá 80.000 đồng/kg trong khi ba rọi nhập khẩu từ Tây Ban Nha (nhà sản xuất Litera) có giá 76.000 đồng/kg. Ba rọi rút xương của nhà sản xuất APK (Nga) giá 103.800 đồng/kg đã bao gồm VAT.
Các sản phẩm khác nhập khẩu từ Nga như sườn que giá 28.000 đồng/kg, sụn ức có giá 45.700 đồng/kg, sườn vai 57.000 đồng/kg, sườn non có giá từ 80.000-90.000 đồng/kg tùy loại.
Riêng với quán ăn bình dân, nhân viên kinh doanh của kho lạnh này giới thiệu sản phẩm được nhiều quán chọn mua là má heo có da, với giá chỉ 36.000 đồng/kg.
Cùng với đó là các loại xương heo có thịt dùng để nấu các món hầm, canh rau củ hoặc hầm lấy nước giá 11.000 đồng/kg. Mỗi thùng trọng lượng 10 kg có giá 110.000 đồng.
Khi được hỏi về thịt bò để bán quán bún bò, phở bò, đại diện cửa hàng cho rằng: “Thịt nhập khẩu hầu hết là thịt trâu, chỉ một số ít là thịt bò nhưng bán không chạy bằng”.
Cụ thể, doanh nghiệp này có sườn bò GPB (loại sườn bò có xương) nhập khẩu từ Úc với giá chỉ 59.000 đồng/kg. Mỗi thùng trọng lượng 12-15kg. Trong khi đó, sườn bò Greenham (thường là phần sườn ức) cũng xuất xứ từ Úc có giá chỉ 55.000 đồng/kg.
Nếu thịt bò chỉ hạn chế ở hai mã sản phẩm trên thì danh sách thịt trâu phong phú, đa dạng hơn với 16 mã sản phẩm khác nhau, giá bán cũng chênh lệch từ 80.000-160.000 đồng/kg.
Theo đó, thịt trâu vụn từ Ấn Độ có giá 80.000 đồng/kg, mỗi thùng 20kg. Dẻ sườn trâu có giá 113.000 đồng/kg trong khi nạc mông trâu có giá 135.000 đồng/kg… Giá cao nhất trong các sản phẩm thịt trâu là bắp hoa 159.000 đồng/kg.
Với thịt gà, sản phẩm nhập khẩu từ nhiều quốc gia như Mỹ, Argentina, Ba Lan, Brazil… Trong đó, các sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ có giá thấp nhất, từ 42.000 đồng/kg cho thịt gà góc tư và đùi tỏi.
Với cánh gà, loại cánh xếp lớp Aurora (Brazil) có giá 57.000 đồng/kg trong khi loại cánh giữa nhập từ Ba Lan có giá 60.000 đồng/kg…
Từ quán ăn, đến siêu thị… đều có bán thịt nhập khẩu
Không chỉ tại chợ đầu mối, khảo sát của Dân trí cũng cho thấy, thịt nhập khẩu – thường được tiểu thương gọi là thịt đông lạnh, được bày bán khá phổ biến tại hầu hết các siêu thị cũng như chợ dân sinh tại TPHCM.
Tại một cửa hàng bách hóa trên đường Tỉnh lộ 43 (phường Tam Bình, TPHCM), sườn non heo nhập khẩu từ Brazil được chặt khúc, đóng khay có giá 124.000 đồng/kg. Giá này thấp hơn gần 30.000 đồng/kg của chính sản phẩm này trong tháng trước.
Sườn que heo nhập khẩu từ Đức, Nga có giá 75.000 đồng/kg trong khi ba rọi rút sườn từ Nga có giá chỉ 105.000 đồng/kg. Khách hàng được yêu cầu mua ít nhất 10kg/đơn hàng.
Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dẫn số liệu từ Cục Hải quan cho biết trong 8 tháng đầu năm, Việt Nam nhập khẩu 658.700 tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 1,91 tỷ USD, tăng 5,6% về lượng và tăng 26,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm gần 20,4% tổng lượng nhập khẩu, với 134.200 tấn, trị giá 580,8 triệu USD. So với cùng kỳ năm trước, lượng nhập khẩu từ thị trường này tăng 17%, còn trị giá tăng 43,8%.
Ngoài Ấn Độ, nhập khẩu thịt và sản phẩm từ thịt từ một số thị trường như Mỹ, Brazil, Tây Ban Nha, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, New Zealand và Slovenia cũng tăng cả về lượng lẫn trị giá. Ngược lại, nhập khẩu từ Nga, Canada, Hàn Quốc, Ba Lan, Hà Lan, Italy, Iran, Hong Kong (Trung Quốc) và Algeria giảm so với cùng kỳ.
Xét theo chủng loại, thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lượng thịt nhập khẩu, với 36,33%. Tiếp đến là thịt trâu tươi đông lạnh, chiếm 18,9%; thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 18,85%.
Đáng chú ý, trong 8 tháng đầu năm, Việt Nam nhập khẩu 124.100 tấn thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh, trị giá 212,64 triệu USD, tăng 18,8% về lượng nhưng giảm 23,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Đại diện một doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm nhập khẩu có địa chỉ tại đường số 7 (phường Bình Hưng Hòa, TPHCM) cho biết, dù mới tham gia thị trường thịt nhập khẩu nhưng doanh nghiệp này nhận thấy, thị trường tăng trưởng ngày càng nhanh.
Theo vị này, so với việc kinh doanh “thịt nóng” trong nước, việc kinh doanh thịt đông lạnh “dễ thở” hơn do thời gian bảo quản dài. Người bán không chịu áp lực về việc hết hạn sử dụng hay thịt bị qua ngày như các sản phẩm trong nước.
Còn theo đại diện kho thực phẩm đông lạnh trên đường Tỉnh lộ 43 (phường Tam Bình), điều đáng ngại là khi nhập khẩu về, sản phẩm đều được đóng thùng và in tem nhãn đầy đủ thông tin. Thế nhưng, khi bán ra thị trường, hầu hết các tiểu thương đều xé bỏ nhãn, rã đông và “trộn” vào với thịt nóng để bán cho dễ.
Việc này dễ dẫn đến tình trạng chất lượng thịt bị ảnh hưởng, nhiễm chéo hoặc bán không đúng giá trị thật của sản phẩm cho người tiêu dùng.
“Nếu không có kinh nghiệm hoặc không phải người trong ngành, người tiêu dùng không thể nào nhận ra được thịt nhập khẩu đang được trộn chung cùng với thịt trong nước, bán ở nhiều sạp hàng ngoài chợ”, vị này chia sẻ.
Còn khi đặt câu hỏi với một khách hàng đang cùng mua thịt để kinh doanh quán cơm sinh viên tại phường Linh Xuân (TPHCM) rằng, nếu người mua hoặc khách ăn cơm hỏi nguồn gốc thịt từ đâu thì giải thích thế nào, người viết nhận được câu trả lời ngắn gọn: “Anh nói không biết, thịt nào cũng là thịt!”.
Theo vị này, nếu người bán (chủ quán cơm, quán phở…) thật thà “khai” nguồn gốc thì khách hàng ngại, không ăn. Nhưng nếu nói dối thì lương tâm không cho phép hoặc lo ngại các rủi ro bị “bóc phốt”.
Do đó, tìm cách đổi chủ đề hoặc lảng tránh câu trả lời là cách người này áp dụng đối với những thực khách muốn hỏi nhiều thông tin về nguồn gốc nguyên liệu sử dụng tại quán.
Thuận Hải
Nguồn Dân Trí
